TỰ HÀO SỬ VIỆT
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Latest topics
» HELLO MOI NGUOI OI
Fri Dec 20, 2013 9:24 am by lệ viên

» CHIẾN CÔNG CUỐI CÙNG CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Thu Nov 07, 2013 6:44 pm by nguoihoaico

» ai da cuoi chong
Sat Sep 21, 2013 5:52 pm by vtruong2003

» NĂM MẠC CỬU VỀ HÀ TIÊN
Thu Feb 28, 2013 8:59 am by anhoa

» thông tin của lớp
Sun Jan 27, 2013 9:49 pm by Vũ Ngọc

» forum bị lãng quên
Wed Dec 05, 2012 11:15 am by Vũ Ngọc

» ẢNH CƯỚI NGỌC BÍCH
Mon May 21, 2012 7:33 pm by haflee

» ngày mai trong đám xuân xanh ấy có kẻ theo chong bỏ cuộc chơi
Wed May 16, 2012 3:12 pm by traitimphale

» một hành trang - một ước mơ
Mon Apr 02, 2012 7:46 pm by thanglonghoaico1010

Affiliates
free forum

Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Thống Kê
Hiện có 2 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 2 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 12 người, vào ngày Tue Aug 08, 2017 3:24 am
November 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Calendar Calendar


GS.NGƯT Trần Quốc Vượng: cây đại thụ của nền sử học việt nam

Go down

GS.NGƯT Trần Quốc Vượng: cây đại thụ của nền sử học việt nam

Bài gửi  lệ viên on Tue Mar 30, 2010 10:26 am



Giáo sư Trần Quốc Vượng sinh ngày 12.12.1934 tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Quê gốc của ông ở xã Lê Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, một làng quê "bên bờ sông nhỏ, dưới chân một trái núi nho nhỏ miệt đồng chiêm trũng xứ Nam...".


Là con trai út của một gia đình có nhiều người sớm được giác ngộ và đi theo cách mạng, theo kháng chiến, theo Đảng. Ngay từ nhỏ, ông đã được sống "trong không khí một gia đình "có học" (và chỉ biết có học)". Niềm đam mê văn sử của ông, lòng tâm thành với lịch sử và văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ truyền thống yêu nước, ham học, hiếu học ấy của gia đình.

Ông tự bạch: "Tôi sinh vào 9 giờ kém 10 phút, ngày 12.12.1934, tức là vào giờ con chó (Tuất), ngày 6 tháng 1t năm Giáp Tuất, tại Hải Dương, là dòng dõi con cháu nhà Trần. Theo khoa tử vi học phương Đông cổ truyền, số phận của tôi là ngọn lửa đầu non (Sơn đầu hoả) và thân phận của tôi là dịch chuyển (Thân cư thiên di). Nay vào tuổi 70, diễn biến của đời tôi đúng là như vậy. Dù đã ở tuổi "xưa nay hiếm", nhưng một năm tôi chỉ ở Hà Nội khoảng 100 ngày, những ngày còn lại là đi khắp chốn cùng quê, đào bới, phát hiện những "tầng" văn hoá...".

Từ giữa năm 1956, sau khi tốt nghiệp thủ khoa ngành Sử - Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông trở thành thầy giáo của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Suốt cả cuộc đời, GS. Trần Quốc Vượng gắn bó thuỷ chung, dốc một lòng, trông một đạo cho Khoa Lịch sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN.

Trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng là người đã góp phần xây dựng Bộ môn Khảo cổ học, có công gây dựng Trung tâm Nghiên cứu Liên Văn hoá - Lịch sử, Bộ môn Văn hoá Du lịch, Bộ môn Lịch sử Văn hoá Việt Nam và môn Địa lý Nhân văn... Ông là một trong những người khơi mở và đi đầu trong hướng tiếp cận liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu các ngành sử học, văn hoá học...

Ngoài công tác đào tạo, nghiên cứu ở Khoa Lịch sử, từ năm 1976 đến nay ông còn giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội. Từ năm 1989 đến nay, ông liên tục được bầu làm Phó chủ tịch Hội Văn hoá - Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Văn hoá ẩm thực Việt Nam, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Nghề truyền thống Việt Nam... Với ngành Sử học, GS. Trần Quốc Vượng là Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội khoá II và là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khoá IV, khoá V.

Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đơn vị Anh hùng không thể có được những thành tựu và kết quả nghiên cứu, đào tạo nổi bật như hiện nay, nếu không có sự đóng góp công sức và trí tuệ của những người thầy, những nhà khoa học gắn bó, say mê, yêu nghề, yêu người như GS. Trần Quốc Vượng.

Do có nhiều cống hiến nổi bật, năm 1980, ông được phong học hàm Giáo sư và đến năm 1990, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Bên cạnh những huy chương Vì thế hệ trẻ, Vì sự nghiệp giáo dục, Vì sự nghiệp khoa học - công nghệ, Vì sự nghiệp văn hoá - nghệ thuật, Vì sự nghiệp văn hoá dân gian, Vì sự nghiệp biên phòng... GS. Trần Quốc Vượng đã được Đảng và Nhà nước trao tặng các huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhất.

Là một trong bốn người được các thế hệ học trò Khoa Lịch sử tôn vinh là "tứ trụ" của khoa, tên tuổi của GS. Trần Quốc Vượng đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ sinh viên. Trong lòng mỗi học trò, GS. Trần Quốc Vượng là người thầy đúng nghĩa, người THẦY viết hoa. Lối ứng xử chân tình, dân dã và tri thức uyên bác của ông đã trở thành một nét rất riêng Trần Quốc Vượng, lôi cuốn và làm say biết bao nhiêu người rong ruổi theo ông trên hành trình "vừa làm vừa học, vừa học vừa làm..." của mình.

Đối với giới nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn của khu vực Đông Nam Á và thế giới, GS. Trần Quốc Vượng được đánh giá cao bởi những đóng góp và ý tưởng khoa học mới lạ, độc và sắc của mình ở bất kỳ lĩnh vực nào mà ông quan tâm. Ông tham gia, chủ trì và đồng chủ trì nhiều hội thảo khoa học trong nước và quốc tế (Nga, Mỹ, Nhật, Hàn, Thái, Malaysia, Philippines...). Một số công trình nghiên cứu của ông đã được công bố ở nước ngoài như "Việt Nam khảo cổ học" bằng tiếng Nhật, "Vietnam Folklore and History", "Some aspects of Vietnam Culture", " Confucianism in East Asia"... Ông đã góp công gây dựng, thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác quốc tế cho một số ngành đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, qua đó bước đầu tạo điều kiện để hội nhập với môi trường học thuật khu vực và quốc tế.

Cả cuộc đời, GS. Trần Quốc Vượng đau thiết cho sự nghiệp trồng người. GS. Trần Quốc Vượng là một trong những nhà khảo cổ học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giảng dạy môn Khảo cổ học ở Khoa Lịch sử. Cùng với GS. Hà Văn Tấn, GS. Trần Quốc Vượng là những người khởi thuỷ của ngành Khảo cổ học của nước Việt Nam độc lập, "bởi khi người Pháp ra đi khỏi miền Bắc vào trước ngày 10.10.1954, họ đã không để lại một nhà khảo cổ học Việt Nam nào". Có thể nói một cách không ngoa rằng, hầu hết những người làm khảo cổ ở Việt Nam hiện nay là học trò của ông (họ thường trìu mến gọi ông là Thầy Vượng/Cụ Vượng và xưng con). Biết bao thế hệ học trò của Khoa Lịch sử đã chọn Khảo cổ làm lẽ sống và sự nghiệp cho mình bởi một lý do rất đơn giản vì say ông, say những bài giảng của ông, những bài giảng được thể hiện bằng một cách rất riêng, rất Trần Quốc Vượng. Không mạch lạc theo lối trường quy, không dễ ghi chép nhưng đầy ắp ý tưởng, buộc người học phải suy ngẫm, phải đau đầu. Những ý tưởng khoa học mới, độc đáo của ông không phải đã được học trò hiểu và tiếp nhận ngay trong lúc học nhưng mãi theo họ trong quá trình "nghiệm sinh" của cuộc đời. Một học trò của ông nay đã thành danh tâm sự: "Ngày ấy, nhiều thầy giảng rất có phương pháp sư phạm và khoa học. Đầy đủ các đề mục 1 La Mã, 1 Ả Rập... rất dễ ghi chép, nhưng bây giờ tôi quên sạch. Còn thầy Vượng giảng chẳng ghi được mấy, nhưng những lúc cần nhớ tôi nhớ hết". Ông luôn là tấm gương mà nhờ đó lớp học trò của ông sớm trưởng thành. Những người học trò của GS. Trần Quốc Vượng không chỉ được ông truyền nghề mà còn được truyền cả cách sống nữa. Với tính cách của mình, ông để lại dấu ấn rất sâu đậm trong các thế hệ học trò. Có lẽ hiếm người thầy nào đi suốt dọc từ Nam chí Bắc đều có học trò như ông, học trò của ông ở nhiều độ tuổi khác nhau, không ít người giữ cương vị cao trong chính quyền, có người tuổi cũng đã thất thập, nhưng tất thảy đều giữ chữ "kính" và tình cảm say mê đến mức "đam mê" đối với ông. Có lẽ đối với một người thầy, thì tình cảm của học trò còn hơn bất kỳ một phần thưởng, một danh hiệu nào.

Trong suốt cuộc đời dạy học của mình, bất kỳ ở đâu, với đối tượng nào, cái mà ông đau đáu chính là tạo cho sinh viên một phương pháp tư duy đại học, biến quá trình đại học thành quá trình tự học mà trong đó, điều quan trọng bậc nhất là dám đặt lại vấn đề, dám nghĩ khác và dám dấn thân vào những góc khuất, những gai góc, những nẻo đường chưa hoặc ít được khai phá của khoa học.

Đối với ông, người thầy phải làm sao để sinh viên trở thành chủ thể của quá trình đào tạo, tự mình khám phá và quyết định cách học cho riêng mình. Trong những bài nhập môn khảo cổ học, văn hoá học, bao giờ ông cũng bắt đầu bằng những khái niệm, mà theo ông đó là những khái niệm công cụ, khái niệm chìa khoá dẫn dắt sinh viên trên con đường khám phá chân lý khách quan và khái quát của lịch sử, văn hoá dân tộc. Ông là người dẫn đường cho bao thế hệ những người làm khảo cổ, văn hoá ở Việt Nam. Nghiêm khắc với học trò nhưng ông luôn dành cho họ tình yêu thương đằm thắm, tôn trọng cá tính, tin tưởng, kích lệ cổ vũ họ trong những bước đi chập chững ban đầu nghiên cứu khoa học. Với học trò, không chỉ dạy, ông còn học từ họ "Học thầy không tày học trò", hơn thế nữa ông là người sòng phẳng và tôn trọng học trò. Lấy của ai một câu, một chữ đều có nêu "xuất xứ" đàng hoàng. Câu nối thêm một thành ngữ cổ của ông "Con hơn cha, nhà có phúc, trò hơn thày, đức nước dày" thường được mọi người tâm niệm như một lời nhắc nhở về trách nhiệm làm thầy, trách nhiệm làm người giữa các thế hệ.

*

GS. Trần Quốc Vượng là người đã khai phá, gieo mầm những ý tưởng mới, nêu cao lời thề trung thực, dũng cảm cho các nhà sử học. Người đã vượt qua phong ba bão táp để làm một cánh đại bàng trong làng Sử học, Văn hoá học Việt Nam.

Mới ngoài 20 tuổi, được sự khích lệ động viên của các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, ông đã dịch và chú giải "Việt sử lược". Để làm được điều đó, ông đã phải tham khảo rất nhiều sách chữ Hán của Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói vốn ngoại ngữ đã giúp ông rất nhiều trong những bước đi khoa học ban đầu trên con đường làm khoa học. Cách học và dùng ngoại ngữ của ông cũng thật lạ, thật riêng. Phát âm không thật chuẩn, ngữ pháp không thật xịn, nhưng ngoại ngữ trong tay ông đã được biến hoá một cách tài tình, ông có tài "bịa chữ" cả với tiếng mẹ đẻ, cả với tiếng nước ngoài. Những bài viết của ông đầy chặt những khái niệm, thuật ngữ nước ngoài, kết quả của một sự nghiền ngẫm lâu dài, cốt chuyển tải sát đúng nhất tư duy của ông và thực sự hữu ích đối với độc giả. Ông băn khoăn, trăn trở khi chuyển nghĩa những thuật ngữ khoa học nước ngoài sang tiếng Việt, với ông đấy cũng là công việc nghiên cứu chứ không đơn thuần chỉ là dịch chữ. Cùng với "Dư địa chí" do GS. Hà Văn Tấn hiệu đính, cuốn "Việt sử lược" do ông dịch và chú giải vẫn là những cuốn sách tham khảo không thể thiếu được của những người học và làm sử Việt Nam cổ trung đại. Trong hơn 40 năm qua, ông đã viết hàng trăm bài nghiên cứu in trên các báo và tạp chí ở trong và ngoài nước; là tác giả, đồng tác giả và chủ biên của hàng chục cuốn sách từ giáo khoa đến sách chuyên môn. Mỗi trang viết của ông là kết quả của quá trình tìm tòi suy ngẫm và nghiệm sinh lâu dài, hiện đại về tư liệu, xử lý tài tình mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo và đặc biệt ông cố gắng hết mức để gọi sự vật bằng chính cái tên của nó. Đối với những nhà nghiên cứu lịch sử, theo ông có một nguyên tắc tối thượng, đó là "Nghiêm thay sử bút".

Với Thăng Long - Hà Nội, bước chân của ông đã in dấu khắp góc phố, nẻo đường. GS. Đinh Xuân Lâm cho rằng: "Hơn 40 năm qua, GS. Trần Quốc Vượng vẫn miệt mài nghiên cứu về Hà Nội và có những công trình khoa học đặc sắc về Hà Nội, ông cũng là người có công đầu trong việc xây dựng ngành Hà Nội học. Nếu có một danh hiệu "nhà Hà Nội học" thì người đầu tiên và xứng đáng nhất để nhận danh hiệu là GS. Trần Quốc Vượng". Những tác phẩm về Hà Nội của ông thực sự là những công trình nghiên cứu uyên bác mà trong đó tập hợp đầy đủ những tri thức, những kinh nghiệm, những phương pháp ông tích luỹ được trong các địa hạt Khảo cổ học, Cổ sử học, Văn hoá dân gian...

GS. Trần Quốc Vượng thuộc môtíp bác học quảng văn. Tiếng nói của ông cất lên trong nhiều lĩnh vực Khảo cổ học, Cổ sử học, Dân tộc học, Tâm lý học, kể cả Tâm lý học các chiều sâu, Nghệ thuật học, Văn hoá học... Nhưng không ở đâu, tiếng nói Trần Quốc Vượng chiếm vị trí chủ đạo, nếu không nói là duy nhất, thể hiện toàn bộ con người ông như ở lĩnh vực Địa - Văn hoá.

Những thành công của ông trong lĩnh vực Địa - Văn hoá và trong những lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn khác không đơn thuần là kết quả nghiên cứu khoa học mà là kết quả của cái Tâm, cái Tình đối với đất nước và con người Việt Nam. Mở ra một ngành học mới bao giờ cũng là công sức của nhiều người, nhưng để định hướng và phát triển ngành đó không thể thiếu được vai trò tiên quyết của người đầu ngành. Dưới sự dẫn dắt của ông, nhiều cán bộ giảng dạy của Khoa Lịch sử và của một số khoa khác trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã trở thành những người nghiên cứu và giảng dạy môn Cơ sở Văn hoá Việt Nam có uy tín, được xã hội thừa nhận. Công lao lớn nhất của ông là đào tạo lớp học trò - thầy giáo kế cận bằng cách cung cấp cho họ phương pháp luận và phương pháp suy luận cùng thực tiễn điền dã. Điều quan trọng là ông hiểu và tôn trọng cá tính, nắm bắt khả năng của mỗi học trò, của mỗi cán bộ trẻ để phát huy sức tự lực, tính năng động của họ trong cả hai lĩnh vực: đào tạo và nghiên cứu. Phương pháp truyền nghề này của GS. Trần Quốc Vượng cũng chính là sự chiêm nghiệm tuyệt vời thái độ tôn trọng sự đa dạng và khoan dung văn hoá mà ông luôn xem là lối sống, lối ứng xử của mình.

Người mang "Tính trời, nết đất", người luôn tìm đọc cuộc sống qua những cuộc lang thang dông dài khắp đất nước, trung thực với chính mình, biết trước được số phận của mình, dám đón nhận và chịu nổi chìm cùng các dòng tư tưởng của thời đại, dám sống tới tận cùng với những đam mê.

Suốt đời mình, GS. Trần Quốc Vượng ngang dọc khắp mọi miền đất nước, cùng những người học trò của mình ông vừa đi, vừa dạy, vừa học, vừa chiêm nghiệm, thực sự dấn thân vào con đường khoa học đầy gian lao. Ông là một tấm gương thuyết phục nhất về lòng tận tụy trong nghề nghiệp và sự chịu đựng. Chịu đựng những nỗi cực nhọc trong các chuyến đi điền dã và cả với sự không đồng thuận lúc này, lúc kia của giới học thuật về quan điểm khoa học của mình. Từ năm 1959 đến nay, hầu như không có một di chỉ, một phát hiện khảo cổ quan trọng nào trên đất nước ta lại không gắn liền với công lao phát hiện hoặc tham gia của ông. Là một trong những nhà khảo cổ học đầu ngành, cùng với các đồng nghiệp, GS. Trần Quốc Vượng đã góp phần định danh, làm rõ những đóng góp và giá trị tiêu biểu của các nền văn hoá, các thời đại văn hoá Việt Nam trong mối liên hệ và tương quan với môi trường văn hoá của khu vực và thế giới. Những nghiên cứu lý thuyết, điền dã của ông về khảo cổ học Việt Nam là kết quả của quá trình từ nhận thức - nhận định lại - tái nhận thức đến nhận thức, nghiên cứu khoa học đối với ông không bao giờ có điểm đóng, kết cuối của mỗi công trình nghiên cứu theo ông cũng chính là mở đầu cuộc tìm kiếm, chiêm nghiệm mới và cứ như thế...

Lối đi điền dã của ông cũng khác người, cực nhọc, vất vả và có phần nguy hiểm, ngay cả người trẻ nhiều khi còn thấy nản. Ông thường chọn vùng sâu, vùng xa, vùng biên... để dong duổi cùng đồng nghiệp và học trò. Khi tìm nơi đi khảo sát, điền dã, ông không chỉ chọn lựa theo hiểu biết và kinh nghiệm của mình và của người khác mà còn theo trực giác, cái trực giác quá nhạy bén làm nhiều người quanh ông kinh ngạc và được coi là khả năng ngoại cảm để nhìn xuyên qua lòng đất. Nhiều học trò khi chứng kiến những phán đoán "như thần" của ông đã đi từ ngạc nhiên, băn khoăn đến "tâm phục, khẩu phục" để rồi gật gù với nhau rằng nếu thầy đã bảo đi thì cứ đi, nếu thầy đã chọn ngày, chọn giờ, chọn nơi rồi thì cứ yên tâm, thể nào cũng khối cái hay và "chắc chắn chỉ có hay trở lên". Kết quả của những đợt điền dã như thế hầu như không bao giờ chệch khỏi những tiên nghiệm khoa học của ông.

Cuộc đời của ông, sự nghiệp của ông đa chiều kích, dung hoà giữa các mối quan hệ giữa cá nhân - tôi và cộng đồng - chúng tôi, nhưng dù ở đâu, trong bất kỳ tình huống nào, cá tính Trần Quốc Vượng vẫn in dấu ấn, bởi cá tính đó xuất phát từ bản lĩnh cá nhân, từ ý thức về bản thân và chịu trách nhiệm về hành động của chính mình.

Ở ông không có sự tách biệt giữa tâm hồn lãng du của người nghệ sĩ với sự thâm trầm uyên bác của nhà khoa học và cả hai đã tạo nên một diện mạo kỳ nhân Trần Quốc Vượng. Một người nghệ sĩ không hình thức, một người của dân gian, hoà nhập trên đường tre, ngõ trúc, gập ghềnh trên lối sống trâu mà nhẹ tênh hơn là phăng phăng giữa mặt nhựa, mà nặng nề... Có lẽ ít người thành công như ông khi cả đời dong duổi trong mê lộ của logic và trực giác để tìm tòi và suy ngẫm và nghiệm sinh những ý tưởng mới, kỳ lạ và như "ngọn lửa đầu non" toả sáng, dẫn dắt. Ngạo nghễ mà dân dã, ông đã khẳng định một lý thuyết Folklore học của chính mình: "Cái "bác học" và cái "dân gian" ở Việt Nam là rất gần nhau và rất dễ chuyển hoá cho nhau".

Học - hỏi - hiểu - hành là nguyên tắc và phương pháp dạy - học và nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng. Ông đã đắc đạo trong quá trình đọc - đi - chơi - học hỏi không ngừng của mình.

Cuộc đời và sự nghiệp của GS. Trần Quốc Vượng thực sự là tấm gương sáng cho những thế hệ học trò. Những khai phá, mở đường cho những cái nhìn mới về Văn hoá - Sử - Địa học... Việt Nam của GS. Trần Quốc Vượng đã, đang và sẽ được các thế hệ mai sau tiếp bước. Ánh lửa trong các công trình nghiên cứu và quan điểm học thuật sâu sắc của thầy vẫn còn đang toả sáng. Những thông tin khoa học quý giá và những ý tưởng khoa học mới mẻ của thầy vẫn đang chờ chắp cánh bay lên./.

Lâm Thị Mỹ Dung [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

_________________


Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá,
Thà như giọt mưa khô trên tượng đá.
Thà như mưa gió đến ôm tượng đá...
Có còn hơn không, có còn hơn không...
avatar
lệ viên
Tri Phủ
Tri Phủ

Tổng số bài gửi : 384
Points : 3851
Reputation : 4
Join date : 11/11/2009
Age : 30
Đến từ : Xứ Dừa

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Trung thực và dũng cảm - lời thề chung cho các nhà sử học

Bài gửi  lệ viên on Tue Mar 30, 2010 11:08 am

giới thiệu bài viết của GS. Trần Quốc Vượng tại hội nghị bàn về phương hướng xây dựng giáo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Văn hóa Việt Nam


1. Mỗi giáo trình đại học theo đúng nghĩa phải là một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Chất lượng cao là gì? ở những phần sau sẽ nói, nhưng ở đây cần nói ngay rằng toàn bộ và trong từng phần cuốn sách nó phải là một công trình suy tư - nghiên cứu đã nhiều năm đau thiết của một/ những giảng viên đại học có nhân cách khoa học (Personnalité) được xã hội trí thức trong ngoài nước thừa nhận, tuy vẫn có thể được tranh cãi. Tất nhiên là nó phải có tính sư phạm với văn phong khá trường quy.

2. Thời đại mà tất cả các trường đại học trong nước chỉ dùng một giáo trình duy nhất đã qua rồi!. Kinh nghiệm giáo trình "Lịch sử Việt Nam" là vậy, và giáo trình "Cơ sở văn hoá Việt Nam" cũng là vậy.

Cái ta sẽ viết là giáo trình cho ĐHKHXH&NV- trước hết là cho Khoa Sử của ĐHQGHN.

Thế thì và nhất là ở thời buổi "đổi mới" hiện nay, ta chẳng ngần ngại gì mà không thừa nhận tính trường phái của giáo trình do Khoa Sử biên soạn, thậm chí tính cạnh tranh trong khoa học, dù ai đó có thể phê phán chúng ta là có tính đố kỵ hay thậm chí là tính biệt phái - hay bè phái.

Miễn là từ tâm - óc, chúng ta trung thực và hoàn toàn tự nguyện tuân thủ phương pháp luận sử học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa macxit sáng tạo và tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo và hội nhập với trào lưu sử học tiến bộ của Loài người từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, theo cách ta Học - Hỏi - Hiểu - Hành.

Chẳng hạn như, nếu cấp trên giao cho tôi chủ biên giáo trình "Lịch sử Văn hoá Việt Nam" dùng cho Khoa Sử trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, tôi phải có quyền lựa chọn các cộng tác viên trong ngoài trường cùng "gu sử học" với tôi. Nếu không, tôi xin đứng ngoài, không thắc mắc gì và chỉ làm những cái gì và với ai mà tôi thích. Trong trường hợp đó xin chớ phê phán tôi là cá nhân, tiêu cực. Trước mắt tôi là con đường về hưu, hưởng thú thanh nhàn cho đến khi từ giã cõi đời giả tạm này.

3. Chúng ta sẽ viết giáo trình chất lượng cao, để đời. Đời sống của nó là một vài chục năm, cứ cho rằng tới khoảng 2020 sẽ "lạc hậu", quá thời. Và sẽ có một thế hệ khác viết lại. "Il a fait son temps" là một thành ngữ Pháp có tính phổ quát cho mỗi nhà khoa học, cho mỗi công trình khoa học.

3.1. Khối tư liệu dùng để biên soạn nên nó phải phong phú - đa dạng, có tính cập nhật cao.

Như thế, đòi hỏi mỗi người viết sách giáo trình phải cập nhật cao, với trong nước và với quốc tế. Thí dụ về trước Công nguyên, tôi phải đưa vào giáo trình bài "Việt ca" và một bài thơ có nhắc đến Âu Việt - Lạc Việt cùng sự giải mã của học giả Nhật, học giả Trung Hoa và học giả Việt Nam (tuy họ giải mã khác nhau) cũng như tôi phải đưa vào các tài liệu khảo cổ hữu thể sưu tầm được cho đến 2002 (Lung Leng, Eo Bồng, Trà Kiệu, Lý Nhân, Cần Giờ, Domea...).

3.2. Không chỉ hiện đại về tư liệu mà tôi phải xử lý mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo.

Đừng mong hòng một cách ảo tưởng rằng Sử học là một khoa học tuyệt đối khách quan, phát hiện ngay được những quy luật khách quan của sự Vận động lịch sử.

Có Histoire-Réalité và tôi không phải là một kẻ làm sử (Faire Histoire) hư vô chủ nghĩa (annihiliste) hay thực chứng (positiviste). Nhưng cái đó nói như Giáo sư Sử học lớn J.Furet - người tổng kết 200 năm lịch sử cách mạng Pháp (1789-1989) - luôn luôn còn ở phía chân trời của mỗi nhà sử học chân chính. Với đầy lòng kính trọng của một kẻ hậu tử với bậc tiền bối, tôi buộc mình không dối lòng khi nói rằng cụ Trường Chinh chưa phải là người tổng kết lịch sử Cách mạng tháng 8/1945 hay nhất, đúng nhất. Cụ Tảo Trang viết tặng tôi đôi câu đối của đức Phan Bội Châu:

“Hậu tử thường đa tân tuế nguyệt

Tiền trình bất thị ác phong vân."

Tôi vô cùng cảm ơn nhưng vẫn để đấy để ngẫm suy.

Trước mắt chúng ta vẫn chỉ có - và chỉ có thể có - cái Historie Conxience. Lịch sử gắn liền với nhà sử học, với nhân cách và nhận thức của họ.

Viện sĩ Mounier, trong công trình De la connaissane Historique bảo: nhà sử học viết sử cũng chỉ như nhà hoạ sĩ vẽ chân dung (Portraitriste)! Hoạ sĩ vẽ chân dung tôi - một hiện thực khách quan đối với ông ta - nhưng cũng đồng thời họ vẽ chân dung họ, theo cách họ hiểu về tôi.

Tôi vừa được đọc một tài liệu mới nhất: Học thuyết Tương đối luận của A.Einstain cũng chỉ là tương đối mà thôi!.

Vì vậy mà hơn một chục năm trước, tôi đã viết bài "Giải ảo hiện thực Đống Đa” và năm nay tôi đã và sẽ viết bài "Giải ảo hiện thực Đồng Đậu” cùng bài "Giải ảo hiện thực núi Đá Bia" (Phú Yên). Tôi không muốn là kẻ quấy nhiễu sân cỏ lịch sử như Neuville quấy nhiễu sân cỏ World cup Korea - Japan.

Số phận tôi là vậy và tôi buộc phải "đảm đương thân phận”- nói kiểu Từ Chi!

Chẳng hạn, tôi mong các nhà sử học - bạn tôi hãy suy nghĩ và viết lại - chí ít dưới khía cạnh "Lịch sử văn hoá Việt Nam” - về Triệu Đà (Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh có viết như ta trong các giáo trình thập kỷ 60, 70 không?), về Sĩ Nhiếp, về Cao Biền. Vì sao "Việt điện u linh" (1329) - và tâm thức dân gian cùng nhiều nhà sử học khác, gọi ngài là "Sĩ vương" và lập đền thờ cúng. Vì sao trong tờ "thủ chiếu" của đức vua khai sáng nhà Lý, lại gọi "Cao Biền" là "Cao vương"? v.v... Dựa trên suy tưởng của tôi đã có nhà sử học viết rằng: Cái gọi là thời Bắc thuộc về hiển thể chính trị chỉ là quyền tự trị địa phương. Giáo trình mới của Khoa Sử nên xem lại những chuyện đó, dù khuôn nó vào lĩnh vực Histoire mentale (lịch sử tâm thức), một phần của lịch sử văn hoá Việt Nam.

Là một đơn vị được phong tặng danh hiệu cao quý - Đơn vị Anh hùng thời đổi mới, dưới sự chèo chống của ông PGS.TS. Chủ nhiệm Khoa “đức xứng kỳ chức”, với các giáo sư tài ba danh vọng vượt bậc Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang..., tôi chỉ mong toàn Khoa Sử, qua bộ giáo trình mới này, "đổi mới mạnh mẽ và kiên quyết" tư duy Sử học để thế hệ trẻ - như đứa cháu ngoại Phan Quang Anh, tức Bờm của tôi, mới bắt đầu học lớp 9 mà kiên quyết học để được tuyển thẳng vào Khoa Sử - được “phận nhờ” (cháu không chỉ đọc sách giáo khoa phổ thông (“ngắn quá”) mà đã dám đọc “Tiến trình lịch sử Việt Nam") và người già như tôi, ông Hãn, ông Lâm cũng sẽ được ngậm cười ở... thế giới bên kia!

4. Giáo trình mới không nên viết, chẳng hạn "Văn hoá Đông Sơn là văn hoá Lạc Việt”, “Trống đồng Đông Sơn là trống đồng Lạc Việt” như giáo trình Đại học Văn khoa thời thầy tôi, cố GS. Đào Duy Anh rồi gắn cái văn hoá đó với thời Văn Lang - Âu Lạc.

Tôi có điên không? Có lẽ tôi cũng có máu điên trong người, nhưng... tôi tự cho là... vẫn còn "tỉnh".

Học giả ngoại quốc biết bao lần đã nói vào cái "bản mặt" tôi rằng: Cái "giọng" của giới sử các ông Việt Nam rất chi là... "chauvin", "nationalist", tuy... ông là đỡ hơn cả đấy!

ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi đã nêu luận điểm từ khi thành lập ngành Khảo cổ: Khi anh/ chị nghiên cứu những nền văn hoá tiền - sơ sử thì... hãy tạm thời quên đi những biên giới chính trị của các quốc gia hiện nay. Văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn chẳng hạn là của toàn Đông Nam á, cả lục địa và hải đảo.

Đến khi được cấp trên chỉ thị thành lập ngành Văn hoá học, tôi lại nêu luận điểm: Không gian văn hoá và không gian chính trị là khác nhau. Và rất thường khi Biên giới chính trị cắt "ngang xương" một không gian văn hoá, ở châu Phi là vậy. ở Đông Nam á, ở Việt Nam cũng là vậy.

Khi còn sinh thời GS. Phạm Huy Thông, lúc ông làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tôi đã nài được ông cho thuyết trình ở Viện rằng: Cái không gian trống đồng loại I Heger là nằm trong một "tam giác đồng” (tôi nhái khái niệm “Tam giác Vàng") mà 3 đỉnh là Vân Nam - Việt Nam - Lưỡng Quảng ngày nay và nhấn mạnh rằng: ở thời đó nó vẫn là một không gian "Phi Hoa - Phi ấn", gọi là "Không gian Việt cổ" cũng được, nhưng Việt cổ là một khái niệm khá mơ hồ, chỉ nhìn "cái răng, cái tóc là góc con người" thì cũng đủ biết: “Người Đông Sơn” vừa búi tóc (tư liệu Việt Khê, Hải Phòng), vừa xoã tóc (tư liệu Đào Thịnh, Yên Bái), vừa tết tóc (tư liệu nhiều dao găm cán hình người Đông Sơn), có răng nhuộm đen, có răng để trắng: Bao nhiêu "mộ thuyền" đã chứng tỏ điều đó.

"Sống xen kẽ giữa các tộc người" ở Việt Nam, dù Nam á, Nam Đảo hay các ngữ hệ Tạng Miến... gì gì đi nữa đã là một quy luật lịch sử lâu đời để nhà khảo cổ học Thụy Điển, GS. Olov Janse rút ra một kết luận bất hủ: "Vietnam, Carrefour des Peuples et des Civilisations".

Việt Nam hôm nay có sự thống nhất văn hóa và ngôn ngữ, nhưng cũng có sự đa dạng, nếu không muốn nói “huỵch toẹt” ra là có cái “đa văn hóa” (multicultural) và “đa ngôn ngữ” (multilinguistic).

Thì có sao đâu ở trong một cái khuôn thể chế chính trị thống nhất, dân chủ?

Vậy những người anh hùng ở Khoa Sử nên viết "Lịch sử Việt Nam" chứ không phải là "Lịch sử người Việt" cho dù tộc Kinh - Việt hiện nay là chủ thể quốc gia. Mà cái gọi là người Việt như ta hiểu cũng xuất hiện khá muộn mằn trong lịch sử... và cũng đa dạng lắm, từ Bắc - Trung tới miền Nam đất nước.

Từ lâu, người Pháp đã phân biệt Histoire de France và Histoire des Francais. Ta nên tham khảo họ. Người Nhật (và cả người Hoa) cũng đã nhìn thấy nhiều “văn hoá Trung Hoa” rồi đấy (cùng lắm thì họ gọi là "Một văn hoá Trung Hoa có nhiều local cultures".

5. Cho nên cách viết "Lịch sử Việt Nam" nói chung, "Lịch sử văn hoá Việt Nam" nói riêng rất nên là cách viết một thời không gian liên tục kiểu A.Einstein, hay, nói theo một hướng tiếp cận hiện đại, là kết hợp nghiên cứu Lịch đại (Diachronic Studies) và nghiên cứu Vùng - Tiểu vùng (Area Studies).

Đừng “lờ” một hiện tượng lịch sử quan trọng và kéo dài "Nam tiến" (The March to the South) hay còn gọi là Migration horizontale của người Kinh - Việt trong khi ở các nhóm H’mong - Yao, thì đó lại là migration vertical (Di cư theo chiều dọc).

Đừng dùng các khái niệm đã mòn, thậm chí cái thủ thuật "đánh tráo khái niệm” bằng ngôn từ điêu xảo.

Hãy gọi sự vật bằng chính cái tên của nó.

Nếu có một lời thề chung cho các nhà sử học thì, theo tôi, nên là: "Trung thực và dũng cảm".

Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận ý!

Hà Nội, 23/ 6/2002

GS. Trần Quốc Vượng
y y y

_________________


Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá,
Thà như giọt mưa khô trên tượng đá.
Thà như mưa gió đến ôm tượng đá...
Có còn hơn không, có còn hơn không...
avatar
lệ viên
Tri Phủ
Tri Phủ

Tổng số bài gửi : 384
Points : 3851
Reputation : 4
Join date : 11/11/2009
Age : 30
Đến từ : Xứ Dừa

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết